Hội thảo, diễn đàn tại LHTHTQ

Ths Lê Vũ Điệp, Giảng viên Khoa Đa phương tiện - Học viện Bưu chính viễn thông tại Hội thảo "Mạng xã hội và Truyền hình" của LHTHTQ 38.

Bài thuyết trình của Ths Lê Vũ Điệp, Giảng viên Khoa Đa phương tiện - Học viện Bưu chính viễn thông tại Hội thảo "Mạng xã hội và Truyền hình" của LHTHTQ 38.

Sự phát triển của ngành truyền hình thế giới gắn liền với các tiến bộ, phát minh trong khoa học kĩ thuật. Xuất hiện khoảng giữa thế kỉ XX, chiếc tivi đã làm thay đổi toàn diện đời sống con người, đem đến những trải nghiệm thông tin khác biệt bằng sự chân thực của hình ảnh, sự sống động của âm thanh. Bước sang thiên niên kỷ mới, khi internet thâm nhập sâu hơn vào mọi ngõ ngách, cuộc sống nhân loại đã có những biến động mạnh mẽ và ngành truyền hình tiếp tục phát triển với nhiều đột phá quan trọng.

Từ góc độ nghiên cứu báo chí, truyền thông, bài viết này tổng hợp các xu thế phát triển của truyền hình phi truyền thống trên thế giới. Làn sóng phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông theo xu hướng hội tụ đa phương tiện đang diễn ra ở nhiều nơi, mặc dù vậy, vẫn có những khác biệt ở từng quốc gia, từng vùng ngôn ngữ khác nhau- tùy thuộc vào bối cảnh chính trị, điều kiện kinh tế, bản sắc văn hóa…

Kỷ nguyên của truyền hình:

“Đó là một phương tiện, một nghệ thuật mới, rất quan trọng và nó sẽ ảnh hưởng đến toàn xã hội… Với sự ra đời của truyền hình- kết quả của sự kết hợp hai thứ cảm xúc của thị giác và thính giác về một sự kiện hay một cuộc trình diễn- ngay lập tức sẽ tạo thành một nguồn lực mới”. David Sarnoff- Chủ tịch Tập đoàn phát thanh Hoa Kì, trích bài phát biểu trước lễ khai mạc Hội chợ Thế giới New York, ngày 20/4/1939.

Truyền hình đã được nhiều tác giả trên khắp thế giới miêu tả như là vị thống soái trong lĩnh vực truyền thông đại chúng thế kỷ XX. Với những người quan tâm đến lĩnh vực truyền thông này, chỉ cần gõ từ khóa ‘television’ vào cửa sổ tìm kiếm của Google- trong không đến một giây, sẽ có khoảng 2.740.000.000 kết quả liên quan được trả về.

Từ một số thử nghiệm tiền nhiệm những năm 1920 cho đến những năm 1950 của thế kỷ trước, truyền hình thế giới chính thức ra đời và đã trở thành một kênh truyền thông có tác động lớn đến công chúng. [1, p. 48]. Dù sự ảnh hưởng này được đánh giá theo nhiều chiều hướng khác nhau (gồm cả những khía cạnh tích cực và tiêu cực) nhưng các ý kiến vẫn nhất quán ở nhận định về sự tác động vượt trội của truyền hình tới khán giả so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác trong thế kỷ XX. Tại thời điểm mà ranh giới giữa các phương tiện truyền thông đại chúng khác tách biệt các hướng tác động tới công chúng (báo in và tạp chí truyền thông qua thị giác, phát thanh truyền thông qua thính giác) thì với đặc điểm là sự kết hợp bằng hình ảnh, âm thanh (cả thị giác, thính giác)- truyền hình và điện ảnh đã dễ dàng chinh phục khán giả.

Khác với điện ảnh ở một số tính năng cơ bản, truyền hình đảm nhiệm vai trò thông tin, quảng bá, tuyên truyền với các mục tiêu chính trị, thông tin, văn hóa, xã hội ở phạm vi rộng (chẳng hạn như phạm vi quốc gia, lãnh thổ). Theo Mc Quail, một số tính năng cơ bản của truyền hình được nhận định gồm: thứ nhất- mức độ cao về quy định, kiểm soát hoặc cấp phép của cơ quan công quyền; thứ hai- là phương tiện truyền thông vô tuyến với mô hình phân phối tập trung trong đó nguồn cung cấp (source) tỏa ra từ trung tâm với ít hoặc không có dòng chảy trở lại (feedback) [2, pp. 34, 35]. Do đảm nhiệm các tính năng cơ bản này, cùng với các lợi thế so sánh về hướng tác động lên đối tượng tiếp nhận, truyền hình đương nhiên sẽ chiếm giữ vai trò là thủ lĩnh của các phương tiện truyền thông đại chúng trong thế kỉ XX. 

“… sự xuất hiện của truyền hình vào những năm 1950 và 1960 như một phương tiện mới với sức hút hấp dẫn hơn (nếu không nhất thiết có hiệu lực) so với người tiền nhiệm của nó và có ý nghĩa lớn đối với xã hội đời sống” [2, p. 382]. “… truyền hình, trong số các phương tiện truyền thông hiện đại, đã giành được một vị trí trung tâm trong cuộc sống hàng ngày mà nó thống trị 'môi trường tượng trưng' của chúng ta, thay thế thông điệp của nó về thực tại cho kinh nghiệm cá nhân và các phương tiện khác để biết về thế giới. Truyền hình cũng được mô tả như là “cánh tay văn hóa của trật tự công nghiệp được thành lập, phục vụ chủ yếu để duy trì, ổn định và củng cố hơn là thay đổi, đe dọa hoặc làm suy yếu niềm tin và hành vi thông thường [2, p. 413]

Diện mạo mới trong kỷ nguyên mới:

1293643704305862434on-air-sign-radio

 “… Sự đổi mới quan trọng nhất trong truyền hình là khi ngành công nghiệp này đã di chuyển ra khỏi phòng họp, và trải nghiệm tivi ra khỏi phòng khách- đại chúng hóa sản phẩm.” (John Hartley, “Television Studies after TV”, pg 30)

Bước sang thế kỉ XXI, nền tảng internet đã giúp cho việc trải nghiệm truyền hình ngày càng trở nên sinh động hơn. John Hartley đã nhận định một dấu mốc quan trọng cho sự thay đổi của ngành truyền hình và chỉ ra rằng sự dịch chuyển của trải nghiệm người dùng (mà nền tảng internet chính là cơ sở) đã làm cho truyền hình chính thức chuyển sang một thời kì mới- kỷ nguyên hậu truyền hình sóng (post- broadcast era). Từ thế kỷ trước, bắt nguồn từ các nghiên cứu của Lasswell, được phát triển bởi Shannon và Weaver, kênh truyền thông đại chúng này đã được tiếp cận như một hệ tuyến tính (linear model) mà sự khởi đầu là từ một nguồn phát (source) rõ ràng, kết thúc là điểm tiếp nhận (receiver) đã được dự tính và thông điệp (message) được trung chuyển qua những kênh (channel) trung gian. Mô hình truyền tải truyền thông (transmission model of communication) [2, p. 62] có nguồn gốc từ lý thuyết khoa học thông tin [2, pp. 58, 59] này được xem là “mô hình thống trị” (dominant paradigm), hình dung truyền thông như một quá trình tuần tự như sau:

screen shot 2018-12-21 at 3

Khi internet xâm lấn mọi ngõ ngách, truyền thông thế giới và ngành truyền hình đã chứng kiến một cuộc cách mạng toàn diện. Các thành tố của mô hình truyền tải truyền thông này đã có sự thay đổi đáng kể. Để thuận tiện cho việc so sánh, khái niệm “truyền hình truyền thống” (Traditional Television) được tác giả sử dụng để ám chỉ truyền hình trong thế kỉ XX, và khái niệm “truyền hình phi truyền thống” (Non-traditional Television) là cách gọi tên truyền hình trong thế kỉ XXI: 

screen shot 2018-12-21 at 3
screen shot 2018-12-21 at 3
screen shot 2018-12-21 at 3
screen shot 2018-12-21 at 3

Theo cách mô tả của Paul Baran về cấu trúc mạng cơ bản của internet (mạng tập trung, mạng phân cấp, mạng phân tán) [3], có thể thấy rằng khi dịch chuyển lên internet, mô hình hoạt động của truyền hình đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với mô hình một chiều như trước đây. Công nghệ thông tin, viễn thông trên nền tảng internet đang tái thiết toàn cảnh bức tranh của ngành truyền hình thế giới. Những điểm so sánh về sự khác biệt trên đây là kết quả tổng hợp từ nhiều vấn đề xuất phát từ thực tiễn của ngành truyền hình trên toàn cầu. Bước sang thế kỉ XXI, “Truyền hình không còn là một phương tiện độc lập nữa. Khi internet phát triển các hình thức truy cập mới, các phương thức tương tác mới và các sản phẩm truyền thông mới cho một đối tượng trẻ trung, chủ động trong tìm kiếm sự đổi mới. Điều này đã tạo ra một môi trường nơi mà nhu cầu nội dung bùng nổ và các công ty truyền thông đang cố gắng theo kịp với sự gia tăng của các định dạng phương tiện truyền thông mới, các kênh phân phối - về mặt cung cấp nội dung và về cách làm thế nào để 'thu thập' các nền tảng mới này” [4, p. 18].

Những mô tả cơ bản về sự thay đổi của truyền hình phi truyền thống so với truyền hình truyền thống đã cho thấy sự thay đổi toàn diện của ngành truyền hình thế giới khi dịch chuyển mạnh mẽ lên nền tảng internet . Một hệ sinh thái truyền hình đang được tạo ra- là tổng thể của các hệ sinh thái thành phần gồm: hệ sinh thái nội dung, hệ sinh thái kênh truyền, hệ sinh thái người dùng, có thể mô tả hệ sinh thái này trong một mô hình tổng thể như sau:

  •  Hệ sinh thái nội dung: Ngoài các chương trình (TV program) phát sóng trên kênh truyền hình (TVchannel), nhiều nội dung đồng hành/nội dung cầu nối (bridge content) [5, p. 150] đã được thiết lâp. Các nội dung này khai thác các khía cạnh khác nhau xung quanh chương trình truyền hình, giúp người dùng có thêm những trải nghiệm phong phú.
  • Hệ sinh thái kênh truyền: Các kênh bổ trợ (backchannel) [5, p. 4] thực hiện phân phối nội dung song hành với kênh truyền hình (TV channel), giúp nội dung được phân phối trên đa nền tảng (multi- platform), đa màn hình (multiscreen). Hệ sinh thái kênh truyền gồm các kênh do đơn vị sản xuất thiết lập (web, wap, apps, social media…)
  • Hệ sinh thái người dùng: Người dùng có thể tiếp nhận thông tin về chương trình truyền hình thông qua nhiều kênh tiếp nhận (được tạo nên bởi hệ sinh thái kênh truyền). Họ có thể trải nghiệm nội dung (trước/trong và sau khi chương trình truyền hình được phát sóng) và chia sẻ các trải nghiệm với nhà sản xuất, với những người dùng khác trong một không gian công cộng (public phere) về các vấn đề mà họ quan tâm. Rất nhiều nội dung do người dùng tạo ra (UGC- User Generated Content) được người dùng sáng tạo trong không gian công cộng này.
screen shot 2018-12-21 at 3

Hai tác giả Mike Proulx và Stacey Shepatin đã ngay lập tức nhận định ở phần tựa của cuốn sách phân tích về truyền hình dưới góc độ marketing quảng cáo rằng: “Truyền hình luôn luôn là xã hội” và “do vậy, cái tên Truyền hình xã hội (Social TV) dường như cũng không có gì là quá mới mẻ khi nói về phương tiện giải trí trung gian được yêu thích này” [5, p. ix]. Dù các trải nghiệm truyền hình thời hiện đại đã khác xa các trải nghiệm từ những năm 1940 của thế kỉ trước, nhưng tính chất xã hội của truyền hình vẫn không hề thay đổi, chi phối sâu sắc đến cuộc sống của loài người. Trong bối cảnh hiện tại, ngành truyền hình đang chính thức thiết lập một xã hội truyền hình trên nền tảng internet mà ở đó nhà sản xuất (source) đang đóng vai trò là trung tâm điều hành đa nền tảng (multi- platform operator) một hệ sinh thái truyền hình. Hệ sinh thái social TV hàm chứa tất cả những đặc điểm đã mô tả về truyền hình phi truyền thống mà tác giả đã thống kê ở trên.

screen shot 2018-12-21 at 3

Thế giới vẫn đang tiếp tục thay đổi, và internet đã chính thức trở thành một “xa lộ thông tin” cho các phương tiện truyền thông đại chúng (mass media). Hướng lên internet là xu thế tất yếu. Ứng dụng các ưu thế của internet, các đơn vị sản xuất nội dung trên thế giới đang nhộn nhịp cho ra mắt hàng loạt chương trình mới với hình thức nội dung chéo (cross content), chương trình 360 độ (360 degree programming), các nội dung đa nền tảng (multi- platform content), để phân phối trên đa màn hình (multiscreen). Dù đang ở giai đoạn đầu, nhưng những viên gạch đầu tiên sẽ là nền móng cơ sở cho các bước tiến tiếp theo.

Hành động cho tương lai và một số vấn đề cần lưu tâm:

Tác giả Michael Curtin gọi kỷ nguyên hậu truyền hình sóng là “kỷ nguyên của ma trận (Maxtric Era) các phương tiện truyền thông và nhận định rằng trong bối cảnh này, truyền hình không thể còn đứng một mình như trong kỷ nguyên trước. Dù có nhiều ý kiến bày tỏ sự quan ngại về tương lai của truyền hình trong kỷ nguyên số, nhưng cũng có không ít các ý kiến lại khẳng định lạc quan về một tương lai mới của truyền hình. Lịch sử đã chứng minh rằng sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới không bao giờ là sự thay thế hoàn toàn các phương tiện truyền thông đã có trước đó [2], và truyền hình vẫn đang sống mạnh khỏe [5].

Nền tảng internet đã mở ra cho ngành truyền hình nhiều cơ hội, nhưng cũng đem lại không ít thách thức. Trong suốt lịch sử phát triển của mình, ở từng thời kì, truyền hình Việt Nam đã đối mặt với không ít gian nan. Trước sự biến chuyển không ngừng của viễn cảnh truyền thông toàn cầu, trước áp lực cạnh tranh và toàn cầu hóa, trong xu thế hội nhập mà vẫn phải đảm phải bảo duy trì tốt các chức năng quan trọng trong tư cách là một Đài quốc gia [6], Đài truyền hình Việt Nam đang tái thiết toàn diện vì một tương lai phát triển bền vững.

Xây dựng một hệ sinh thái truyền hình trên nền tảng internet theo xu thế hội tụ đa phương tiện là con đường thuận chiều theo xu thế phát triển chung của truyền thông thế giới. Tuy nhiên, không có lời giải chung cho tất cả các bài toán vì luôn có những điều kiện đi kèm và dù theo lời giải nào, ngành truyền hình tại Việt Nam vẫn cần phải nhận thức một số vấn đề trọng yếu sau:

  • Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của một Đài Truyền hình Quốc gia- kênh truyền thông đại chúng quan trọng của đất nước.
  • Từ lý thuyết đến hành động luôn có khoảng cách, phụ thuộc vào bối cảnh thực tế của từng đơn vị, phụ thuộc vào mục tiêu hoạt động và chức năng nhiệm vụ của ngành truyền hình tại Việt Nam.
  • Hoạch định chiến lược song song với phương án quản trị rủi ro; Tìm phương án thử nghiệm từng phần trước khi thực hiện thay đổi toàn diện.
  • Quy hoạch phạm vi thử nghiệm dựa theo một số tiêu chí: 
    • Quy hoạch nội dung: lựa chọn vùng nội dung thử nghiệm (rút kinh nghiệm từ một số nước đi trước trên thế giới, lĩnh vực giải trí, thể thao, văn hóa… thường là khu vực ưu tiên). 
    • Xây dựng bài toán quản trị chương trình theo biên lợi nhuận tổng thể khác với việc phân bổ chi phí theo khung cố định 24/7 và đánh giá hiệu quả theo rating như trước đây. Việc hướng ra internet, phân phối đa nền tảng, cần có một bài toán quản trị phù hợp và linh hoạt.
    • Xây dựng một quy trình sản xuất phù hợp: quy trình sản xuất nội dung phi truyền thống (thiết lập nội dung chéo, chương trình 360 độ) có nhiều điểm khác biệt so với quy trình sản xuất trước đây, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều thành tố trong tất cả các khâu, từ sản xuất đến phát sóng, từ định hướng chiến lược đến mô hình marketing, từ phối hợp nội bộ đến hợp tác đa phương với các đối tác bên ngoài… 

Không có con đường dẫn đến thành công nào trải đầy hoa hồng. Những thay đổi, hướng đi mới luôn luôn tiềm ẩn nhiều chông gai nhưng cũng có không ít cơ hội và điều quan trọng là không được từ bỏ. Một bài toán mới cho sự phát triển của truyền hình trong tương lai đang ở trước mắt và cần có sự chung tay để cùng tìm ra lời giải.

Tài liệu tham khảo:

[1] Diggs-Brown, Barbara (2011), Strategic Public Relations: Audience Focused Practice, 2011.

[2] M. Quail, Mc Quail's Mass Communication Theory, Los Angeles, London, New Delhi, Singapor, Washington DC: SAGE, 2010.

[3] Paul Baran, "On Distributed Communications Networks," New York, March, 1964.

[4] Graemer Turner and Jinna Tay, Television studies after TV, London and New York: Routledge, 2008.

[5] Mike Proulx and Stacey Shepatin, Social TV: How marketers can reach and engage audiences by connecting television to the web, social media, and mobile, New Jersey (USA) and Canada: John Wiley and Sons, 2012.

[6] Hội đồng Bộ trưởng, “Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng, Về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam,” Số 72/HĐBT, 1987.